Home Page
cover of kinhdaibatnha (424)
kinhdaibatnha (424)

kinhdaibatnha (424)

00:00-38:59

Nothing to say, yet

Podcastspeech synthesizerspeechnarrationmonologuemale speech
0
Plays
0
Downloads
0
Shares

Transcription

In this transcription, Cụ Thọ Khá Lợi is discussing the concept of non-birth in relation to the teachings of Buddhism. He explains that everything, including the Dharma and the Buddha, is ultimately non-birth. He questions why practitioners still engage in various practices if everything is non-birth. He suggests that all Bodhisattvas should think in this way and not attach themselves to any concepts or teachings. He concludes that both the birth and non-birth aspects of the Dharma are ultimately inconceivable and non-dualistic. Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Tập 17, Quyện 424, XXIV, Phẩm Viễn Ly 02. Bây giờ, Cụ Thọ Khá Lợi tử nói với Thiện Hiện. Theo tôi hiểu nghĩa lời tôn giả nói ngã cho đến sự thấy rốt ráo không sanh. Sắc cho đến thức rốt ráo không sanh. Như vậy, cho đến Pháp chư Phật và chư Phật rốt ráo không sanh. Pháp tất cả hữu tình và tất cả hữu tình rốt ráo không sanh. Nếu như vậy thì sáu đường thọ xanh sẽ không sai khác, không thể nào dự lưu đắc quả dự lưu, không thể nào nhất lai đắc quả nhất lai, không thể nào bất hoàng đắc quả bất hoàng, không thể nào A-la-hán đắc quả A-la-hán, không thể nào độc giác đắc quả độc giác, không thể nào Bồ-Tát đắc trí nhất thiết tướng, không thể nào Đại Bồ-Tát thấy sáu đường xanh tử xanh lòng rất nhàm chán, cứu vớt chúng sanh nên đắc năm Pháp Bồ-đệ. Lại nữa, này Thiện Hiện. Nếu tất cả Pháp rốt ráo không sanh thì tại sao dự lưu vị quả dự lưu siêng năng tu đạo đoạn hẳn ba kiết xử? Tại sao nhất lai vị quả nhất lai siêng năng tu đạo đoạn thêm tham, sân, si? Tại sao bất hoàng vị quả bất hoàng siêng năng tu đạo đoạn hẳn hạ phần kiết xử? Tại sao A-la-hán vị quả A-la-hán siêng năng tu đạo đoạn hẳn thường phần kiết xử? Tại sao độc giác vị quả độc giác siêng năng tu đạo tự mình mộ pháp duyên khởi? Tại sao Đại Bồ-Tát vị độ vô lượng, vô biên hữu tình tu nhiều trăm ngàn hành khổ khó làm, chịu đủ vô lượng khổ lớn khó nhẫn? Tại sao như lai ứng chánh đặng giác chứng đắc vô thường chánh đặng chánh giác? Tại sao Chiêu Phật vị độ vô lượng hữu tình khổ nên chuyển bánh xe chánh Pháp? Bây giờ, Cụ Thọ Thiện Hiện bảo xá lợi tử. Chẳng phải tôi ở trong Pháp vô sanh kia thấy có sáu đường thọ sanh sai khác? Chẳng phải tôi ở trong Pháp vô sanh kia thấy có người có thể vào Thánh Đế Hiện Quán? Chẳng phải tôi ở trong Pháp vô sanh kia thấy có Dự Lưu Đắc Quả Dự Lưu, thấy có Nhất Lai Đắc Quả Nhất Lai, thấy có Bất Hoàng Đắc Quả Bất Hoàng, thấy có A-La-Hán Đắc Quả A-La-Hán, thấy có độc giác Đắc Quả Độc Giác, thấy có Bồ-Tát Đắc Trí Nhất Thiết Tướng? Chẳng phải tôi ở trong Pháp vô sanh kia thấy có Đại Bồ-Tát Nhàm Chánh Sanh Tử, Đắc Năm Bồ-đề? Chẳng phải tôi ở trong Pháp vô sanh kia thấy có thanh văn tu đạo Đoạn Kiết Sử, thấy có độc giác siêng năng tu đạo tự mình mộ pháp duyên khởi? Chẳng phải tôi ở trong Pháp vô sanh kia thấy có Đại Bồ-Tát vì độ hữu tình nên tu nhiều hạnh khổ, chịu các khổ lớn, nhưng các Đại Bồ-Tát không phát sanh tưởng về hạnh khổ khó làm? Vì sao? Này xá lợi tử! Vì nếu phát sanh tưởng về hạnh khổ khó làm thì rốt cuộc không thể làm lợi ích lớn cho vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Này xá lợi tử! Tất cả Bồ-Tát đem vô sở đắc làm phương tiện đối với các hữu tình sanh tâm đại bi, an trụ tưởng như cha mẹ, anh em, vợ con và thân mình. Vì độ thoát cho họ nên phát tâm vô thường chánh đẳng chánh giác mới có thể làm lợi ích lớn cho họ. Này xá lợi tử! Tất cả Bồ-Tát nên nghĩ như vậy, như tự tánh cua ngã đối với tất cả pháp đem tất cả loại tất cả nơi, tất cả thời mong cầu đều bất khả đắc. Các pháp trong ngoài cũng như vậy, đều vô sở hữu bất khả đắc. Nếu trụ tưởng này liền không thấy có hạnh khổ khó làm, do đây có thể tu nhiều trăm ngàn hạnh khổ khó làm, làm lợi ích lớn cho vô lượng, vô số, vô biên hữu tình. Vì sao? Vì Đại Bồ-Tát này đối với tất cả pháp, tất cả hữu tình, tất cả loại tất cả nơi, tất cả thời không có chấp lấy. Này xá lợi tử! Chẳng phải tôi ở trong pháp vô sanh kia thấy có như là ứng chánh đẳng giác chứng đắc vô thường chánh đẳng chánh giác, chuyển bánh xe dịu pháp độ vô lượng chúng. Vì sao? Này xá lợi tử! Vì tất cả pháp, tất cả hữu tình bất khả đắc. Khi ấy, xá lợi tử hỏi thiện hiện. Ý ông thế nào? Vì muốn dùng pháp sanh để có việc chứng đắc, hay là muốn dùng pháp vô sanh để có việc chứng đắc? Thiện hiện đắc. Tôi không muốn dùng pháp sanh để có việc chứng đắc, cũng không muốn dùng pháp vô sanh để có việc chứng đắc. Xá lợi tử hỏi. Nữ nữ về tì lý nào hôn tôn cong dây xì, cong hành khoan sao? Thiện hiện đắc. Tùy có đắc, có hiện quán nhưng thật không do hai pháp ấy chứng đắc. Này xá lợi tử! Chỉ là tùy theo thế gian mà nói, Lập Tra có đắc hiện quán, chứ chẳng phải trong thắng nghĩa có đắc hiện quán. Này xá lợi tử! Chỉ là tùy theo thế gian mà nói, Lập Tra có dự lưu, có quả dự lưu, có nhất lai có quả nhất lai, có bất hoàng có quả bất hoàng, có A-la-háng có quả A-la-háng, có độc giác có quả độc giác, có Đại Bồ-Tát có hành Đại Bồ-Tát, có chư Phật có quả vô thường chánh đặng chánh giác của chư Phật chứ chẳng phải trong thắng nghĩa có dự lưu v.v. Xá lợi tử hỏi! Nếu tùy theo thế gian mà nói, Lập Tra có đắc hiện quán và dự lưu v.v. chứ chẳng phải là thắng nghĩa, thì sáu đường sai khác cũng tùy theo thế gian mà nói, Lập Tra chứ chẳng phải là thắng nghĩa sao? Thiện hiện đắc! Đúng vậy! Đúng vậy! Vì sao? Này xá lợi tử! Vì chẳng phải trong thắng nghĩa có nghiệt dị thuộc và nhiễm tịnh. Khi ấy, xá lợi tử hỏi thiện hiện! Ý ông thế nào? Vì muốn làm cho Pháp chưa sanh được sanh, hay là muốn làm cho Pháp đã sanh sanh ra? Thiện hiện đắc! Tôi không muốn làm cho Pháp chưa sanh, được sanh, cũng không muốn làm cho Pháp đã sanh sanh ra. Xá lợi tử hỏi! Những gì là Pháp chưa sanh mà tôn giả không muốn làm cho Pháp đó sanh? Thiện hiện đắc! Xá lợi tử! Sắc là Pháp chưa sanh, tôi không muốn làm cho sanh. Vì sao? Vì tự tánh là không. Thọ, tưởng, hành, thức là Pháp chưa sanh, tôi không muốn làm cho sanh. Vì sao? Vì tự tánh là không, cho đến quả vô thường chánh đẳng chánh giác của chư Phật là Pháp chưa sanh, tôi không muốn làm cho sanh. Vì sao? Vì tự tánh là không. Xá lợi tử hỏi! Những gì là Pháp đã sanh mà tôn giả không muốn làm cho Pháp ấy sanh? Thiện hiện đắc! Này xá lợi tử! Sắc là Pháp đã sanh, tôi không muốn làm cho sanh. Vì sao? Vì tự tánh là không. Thọ, tưởng, hành, thức là Pháp đã sanh, tôi không muốn làm cho sanh. Vì sao? Vì tự tánh là không. Cho đến quả vô thường chánh đẳng chánh giác của chư Phật là Pháp đã sanh, tôi không muốn làm cho sanh. Vì sao? Vì tự tánh là không. Khi ấy, xá lợi tử hỏi thiện hiện! Ý ông thế nào? Vì muốn làm cho sanh sanh ra, hay là muốn làm cho không sanh sanh ra? Thiện hiện đắc! Tôi không muốn làm cho sanh sanh ra, cũng không muốn làm cho không sanh sanh ra. Vì sao? Này xá lợi tử! Vì sanh cùng với không sanh hai Pháp này đều chẳng tương ưng, chẳng phải không tương tương, vô sắc, vô kiến, vô đối, nhất tướng gọi là vô tướng. Do nhân duyên này tôi không muốn làm cho sanh sanh ra, cũng không muốn làm cho không sanh sanh ra. Khi ấy, xá lợi tử lại hỏi thiện hiện! Đối với Pháp vô sanh đã nói, tôn giả có muốn biện thuyết tướng vô sanh không? Thiện hiện đắc! Xá lợi tử! Đối với Pháp vô sanh đã nói, tôi cũng không muốn biện thuyết tướng vô sanh. Vì sao? Này xá lợi tử! Vì hoặc Pháp vô sanh, hoặc tướng vô sanh, hoặc muốn biện thuyết, tất cả như vậy đều chẳng tương ưng, chẳng phải không tương ưng, vô sắc, vô kiến, vô đối, nhất tướng gọi là vô tướng. Khi ấy, xá lợi tử lại hỏi thiện hiện! Đối với Pháp không sanh Pháp sanh lời nói không sanh, lời nói không sanh này cũng không sanh phải không? Thiện hiện đắc! Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói! Đối với Pháp không sanh Pháp sanh lời nói không sanh. Nghĩa của Pháp và lời này đều không sanh. Vì sao? Này xá lợi tử! Vì sắc không sanh, thọ, tửng, hành, thức cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Nhãn xứ không sanh, nhĩ, tỉ, thiệt, thần, ý xứ cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Sắc xứ không sanh, thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Nhãn giới không sanh, nhĩ, tỉ, thiệt, thần, ý giới cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Sắc giới không sanh, thanh, hương, vị, xúc, pháp giới cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Nhãn thức giới không sanh, nhĩ, tỉ, thiệt, thần, ý thức giới cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Nhãn xứ không sanh, nhĩ, tỉ, thiệt, thần, ý xứ cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không sanh, các thọ do nhĩ, tỉ, thiệt, thần, ý xúc làm duyên sanh ra cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Địa giới không sanh, thủy, hỏa, phong, không, thức giới cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Thân hành không sanh, ngữ hành, ý hành cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Bố thí ba la mật đà không sanh, cho đến trí nhất thiết tướng cũng không sanh. Vì sao? Vì bản tánh là không. Này xá lợi tử! Do nhân duyên này, đối với Pháp không sanh Pháp sanh lời nói không sanh, nghĩa của Pháp và lời này đều không sanh. Này xá lợi tử! Nghĩa của Pháp thuyết tra, hoặc người thuyết, hoặc người nghe đều vô sanh. Bây giờ, cụ thọ xá lợi tử khen thiện hiện. Trong những người thuyết Pháp, ngài là thứ nhất, chưa Phật thế tồn không ai có thể bị kịp. Vì sao? Vì tùy theo các lời cực vấn về các Pháp môn ngài đều đối đáp không có trở ngại. Thiện hiện đáp. Các đệ tử chưa Phật đối với tất cả Pháp không nương vào chấp trước. Pháp đó đều có thể tùy theo lời cực vấn, mỗi mỗi đều đối đáp tự tại không lo sợ. Vì sao? Vì tất cả Pháp không có chỗ nương tựa. Xá lợi tử hỏi. Vì sao các Pháp hoàn toàn không có chỗ nương tựa? Thiện hiện đáp. Này xá lợi tử! Bản tánh của sắc là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Bản tánh của thọ, tưởng, hành, thức cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Bản tánh của nhãn sứ là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Bản tánh của nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý sứ cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Bản tánh của sắc sứ là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Bản tánh của thanh, hương, vị, súc, pháp sứ cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Bản tánh của nhãn giới là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Bản tánh của nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý giới cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Bản tánh của sắc giới là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Bản tánh của thanh, hương, vị, súc, pháp giới cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Bản tánh của nhãn thức giới là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Bản tánh của nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý thức giới cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Bản tánh của nhãn xúc là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Bản tánh của nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý xúc cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Bản tánh của các họ do nhãn xúc làm duyên sanh ra là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Bản tánh của các họ do nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Bản tánh của bố thí-Ba-la-mật-đa là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa, cho đến bác-nhã-Ba-la-mật-đa cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Bản tánh của Pháp không nội là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa, cho đến Pháp không vô tánh-tự tánh cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Bản tánh của bốn niệm trụ là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa, cho đến tám chi-thánh đạo cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Cho đến bản tánh mười lực của Phật là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Cho đến bản tánh trí nhất thiết là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Bản tánh của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng là không, không nương bên trong, không nương bên ngoài, không nương khoảng giữa. Này xá lợi tử! Do nhân duyên này, ta nói bản tánh của các Pháp là không, nên hoàn toàn không có chỗ nương tựa. Lại nữa, này xá lợi tử! Các Đại Bồ-Tát khi tu hành sáu Pháp Ba-la-mật-đa nên thanh tịnh sắc cho đến thức. Nên thanh tịnh nhãn sứ cho đến ý sướng. Nên thanh tịnh sắc sứ cho đến pháp sứ. Nên thanh tịnh nhãn giới cho đến ý giới. Nên thanh tịnh sắc giới cho đến pháp giới. Nên thanh tịnh nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Nên thanh tịnh nhãn xúc cho đến ý xúc. Nên thanh tịnh các họ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các họ do ý xúc làm duyên sanh ra. Nên thanh tịnh bố thí Ba-la-mật-đa cho đến bác nhã Ba-la-mật-đa. Nên thanh tịnh pháp không nội cho đến pháp không vô tánh tự tánh. Nên thanh tịnh bốn niệm trụ cho đến tám chi thanh đạo. Như vậy, cho đến nên thanh tịnh mười lực của Phật cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng, cho đến nên thanh tịnh trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng. Nên thanh tịnh đạo bồ đề. Lúc bấy giờ, cụ thọ xá lợi tử hỏi thiện hiện. Thế nào là Đại Bồ Tát khi tu hành sáu pháp Ba-la-mật-đa làm thanh tịnh đạo bồ đề? Thiện hiện đáp. Này xá lợi tử. Sáu Ba-la-mật-đa đều có hai loại, một là thế gian, hai là suốt thế gian. Xá lợi tử hỏi. Thế nào là bố thí Ba-la-mật-đa thế gian? Thế nào là bố thí Ba-la-mật-đa suốt thế gian? Thiện hiện đáp. Này xá lợi tử. Đại Bồ Tát nào làm vị Đại Thí Chủ, có thể bố thí cho tất cả sa-môn, ba-la-môn, người nghèo, người bệnh, người đơn côi, người đi đường, người đi sinh, cần thức ăn cho thức ăn, cần nước uống cho nước uống, cần xe cho xe, cần y phục cho y phục, cần hương hoa cho hương hoa, cần đồ trang sức cho đồ trang sức, cần nhà cửa cho nhà cửa, cần thuốc thang cho thuốc thang, cần đèn sáng cho đèn sáng, cần đồ ngồi nằm cho đồ ngồi nằm. Như vậy tất cả các vật tùy theo người đó cần dùng vật gì sinh sống đều cho đầy đủ. Hoặc lại có người đến xin con trai cho con trai, xin con gái cho con gái, xin thể thiết cho thể thiết, xin quang phẩm cho quang phẩm, xin quốc thành cho quốc thành, xin ngôi vua cho ngôi vua, xin đầu mắt cho đầu mắt, xin tai mũi cho tai mũi, xin tay chân cho tay chân, xin từng phần cho từng phần, xin máu thịt cho máu thịt, xin phương tủy cho phương tủy, xin tội tớ cho tội tớ, xin súc vật cho súc vật. Như vậy tất cả các vật bên trong, bên ngoài tùy theo người đó xin vật gì đều cho đầy đủ. Tùy bố thí như vậy mà không có sự lệ thuộc, nghĩa là suy nghĩ như vậy, ta bố thí người, nhận, ta là thí chủ, ta không bỏng sẻng, ta theo lời vật dạy có thể xả bỏ tất cả, ta thực hành bố thí bala mật đa. Khi người kia hành bố thí đem hữu sở đắc làm phương tiện cho các hữu tình bình đẳng cùng nhau hồi hướng vô thường chánh đẳng chánh giác. Lại suy nghĩ như vậy, ta đem phước này bố thí cho các hữu tình, làm cho đời này đời sau được an lạc cho đến chính đắc vô dư y niết bàn. Người kia chấp trước ba luân mà hành bố thí. Những gì là ba? Nghĩa là tưởng mình, tưởng người, tưởng vật bố thí. Do chấp trước ba luân này mà hành bố thí nên gọi là bố thí bala mật đa thế gian. Do duyên nào mà bố thí này gọi là thế gian? Vì việc làm đồng với thế gian, không chuyển đồng, không vượt khỏi pháp thế gian. Do đây nên nói là bố thí bala mật đa thế gian. Này xá lợi tử! Đại Bồ Tát khi hành bố thí cần phải thanh tịnh ba luân. Những gì là ba? Một là không chấp ta là người thí, hai là không chấp người kia là người nhận, ba là không chấp bố thí và quả bố thí. Đại Bồ Tát này khi hành bố thí cần phải thanh tịnh ba luân. Lại nữa, này xá lợi tử! Đại Bồ Tát nào lấy đại bi làm đầu, tu phước bố thí cho khắp hữu tình? Đối với các hữu tình hoàn toàn vô sở đắc. Tuy hữu tình bình đẳng đồng hồi hướng vô thượng chánh đẳng chánh giác nhưng ở trong đó không thấy chúc tướng nào. Do hoàn toàn không chấp trước mà hành bố thí nên gọi là bố thí bala mật đa suốt thế gian. Do duyên nào bố thí này gọi là suốt thế gian? Vì việc làm không đồng với thế gian, có thể chuyển đồng, có thể ra khỏi pháp thế gian. Do đây nên nói là bố thí bala mật đa suốt thế gian. Xá lợi tử hỏi! Thế nào là tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, bát nhã bala mật đa suốt thế gian? Thế nào là tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, bát nhã bala mật đa suốt thế gian? Thiện hiện đắt! Xá lợi tử Này xá lợi tử! Như vậy, Đại Bồ-Tát khi tu hành sáu pháp bala mật đa làm thanh tịnh đạo bồ-đề. Bây giờ, cụ thọ xá lợi tử hỏi thiện hiện. Đạo bồ-đề của Đại Bồ-Tát là gì? Thiện hiện đắt! Này xá lợi tử! Bố thí bala mật đa cho đến bát nhã bala mật đa là đạo bồ-đề của Đại Bồ-Tát. Bốn niệm trụ cho đến tám chi khánh đạo là đạo bồ-đề của Đại Bồ-Tát. Pháp môn giải thoát không, pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện là đạo bồ-đề của Đại Bồ-Tát. Pháp không nội cho đến pháp không vô tánh tự tánh là đạo bồ-đề của Đại Bồ-Tát. Chân như, pháp giới, thật tế, cảnh giới bất tương nghi v.v. là đạo bồ-đề của Đại Bồ-Tát. Tất cả môn Tam-ma-địa, tất cả môn Đà-la-ni là đạo bồ-đề của Đại Bồ-Tát. Mười lực của Phật cho đến mười tám pháp Phật bất cộng là đạo bồ-đề của Đại Bồ-Tát. Này xá lợi tử! Các pháp như vậy tích tụ công đức lớn vô lượng, vô biên, đều là đạo bồ-đề của Đại Bồ-Tát. Lúc ấy, xá lợi tử khen Thuyện Hiện. Lành thay! Lành thay! Đúng như lời ông nói. Này Thuyện Hiện! Công đức lớn tích tụ như vậy là do thế lực nhũng Ba-la-mật-đa nào làm được? Thuyện Hiện đáp! Này xá lợi tử! Công đức lớn tích tụ đã nói như vậy đều do thế lực bát nhã Ba-la-mật-đa làm được. Vì sao? Này xá lợi tử! Vì bát nhã Ba-la-mật-đa này có thể làm mẹ tất cả pháp thiện. Pháp thiện của tất cả thanh văn, độc giác, bồ-tát, chiêu phật đều từ đây mà sanh. Này xá lợi tử! Bát nhã Ba-la-mật-đa này có thể bao gồm hết tất cả pháp thiện. Pháp thiện của tất cả thanh văn, độc giác, bồ-tát, chiêu phật đều nương vào đây mà trụ. Này xá lợi tử! Chúng đại bồ-tát đời quá khứ tu hành bát nhã Ba-la-mật-đa rất viên mãn, nên đã chứng quả vô thường chánh đặng chánh giác. Chúng đại bồ-tát đời vị lai tu hành bát nhã Ba-la-mật-đa rất viên mãn, nên sẽ chứng quả vô thường chánh đặng chánh giác. Chúng đại bồ-tát trong vô lượng thế giới chiêu phật khắp mười phương đời hiện tại tu hành bát nhã Ba-la-mật-đa rất viên mãn nên hiện chứng quả vô thường chánh đặng chánh giác. Lại nữa, này xá lợi tử! Đại bồ-tát nào nghe nói bát nhã Ba-la-mật-đa tâm không nghi hoặc, cũng không hoang mang. Nên biết đại bồ-tát này trụ như vậy là thường trụ không xả bỏ, nghĩa là đem vô sở đắc làm phương tiện, thường siêng năng cứu giúp tất cả hữu tình. Nên biết đại bồ-tát này thành tự tác ý thù thắng như vậy, nghĩa là tác ý tương ưng với đại bi. Khi ấy, xá lợi tử nói với thiện hiện. Đại bồ-tát nào trụ như vậy là thường không xả bỏ, thành tự tác ý tương ưng với đại bi thì tất cả hữu tình cũng sẽ thành tự đại bồ-tát. Vì sao? Vì tất cả hữu tình đối với việc an trụ và tác ý này cũng thường không trời bỏ, do đó các đại bồ-tát sẽ không khác với tất cả hữu tình. Bây giờ, cụ thọ thiện hiện bảo xá lợi tử. Lành thay! Lành thay! Đúng như lời ông nói, có thể biết như thật ý tôi muốn nói. Tuy giống như nạn vấn tôi nhưng thành ra làm rõ nghĩa tôi muốn nói. Vì sao? Này xá lợi tử! Vì hữu tình chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Hữu tình không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Hữu tình không có thật, hữu tình vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Hữu tình không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Hữu tình viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Hữu tình tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Hữu tình không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Sắc cho đến thức chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Sắc cho đến thức không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Sắc cho đến thức vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Sắc cho đến thức không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Sắc cho đến thức viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Sắc cho đến thức tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Sắc cho đến thức không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Nhãn xứ cho đến ý xứ chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Nhãn xứ cho đến ý xứ không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Nhãn xứ cho đến ý xứ vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Nhãn xứ cho đến ý xứ không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Nhãn xứ cho đến ý xứ viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Nhãn xứ cho đến ý xứ tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Nhãn xứ cho đến ý xứ không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Sắc xứ cho đến pháp xứ chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Sắc xứ cho đến pháp xứ không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Sắc xứ cho đến pháp xứ vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Sắc xứ cho đến pháp xứ không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Sắc xứ cho đến pháp xứ viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Sắc xứ cho đến pháp xứ tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Sắc xứ cho đến pháp xứ không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Nhãn giới cho đến ý giới chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Nhãn giới cho đến ý giới không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Nhãn giới cho đến ý giới vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Nhãn giới cho đến ý giới không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Nhãn giới cho đến ý giới viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Nhãn giới cho đến ý giới tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Nhãn giới cho đến ý giới không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Sắc giới cho đến pháp giới chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Sắc giới cho đến pháp giới không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Sắc giới cho đến pháp giới vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Sắc giới cho đến không của pháp giới, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Sắc giới cho đến pháp giới viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Sắc giới cho đến pháp giới tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Sắc giới cho đến pháp giới không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Nhãn thức giới cho đến ý thức giới chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Nhãn thức giới cho đến ý thức giới không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Nhãn xúc cho đến ý xúc chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Nhãn xúc cho đến ý xúc không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Nhãn xúc cho đến ý xúc vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Nhãn xúc cho đến ý xúc không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Nhãn xúc cho đến ý xúc viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Nhãn xúc cho đến ý xúc tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Nhãn xúc cho đến ý xúc không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tưởng! Địa giới cho đến thức giới chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Địa giới cho đến thức giới không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Địa giới cho đến thức giới vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Địa giới cho đến thức giới không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Địa giới cho đến thức giới viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Địa giới cho đến thức giới tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Địa giới cho đến thức giới không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tưởng! Bố thí Ba-la-mật-đa cho đến bác nhã Ba-la-mật-đa chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Bố thí Ba-la-mật-đa cho đến bác nhã Ba-la-mật-đa không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Bố thí Ba-la-mật-đa cho đến bác nhã Ba-la-mật-đa vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Bố thí Ba-la-mật-đa cho đến bác nhã Ba-la-mật-đa không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Bố thí Ba-la-mật-đa cho đến bác nhã Ba-la-mật-đa viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Bố thí Ba-la-mật-đa cho đến bác nhã Ba-la-mật-đa tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Bố thí Ba-la-mật-đa cho đến bác nhã Ba-la-mật-đa không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Pháp không nội cho đến Pháp không vô tánh tự tánh chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Pháp không nội cho đến Pháp không vô tánh tự tánh không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Pháp không nội cho đến Pháp không vô tánh tự tánh vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Pháp không nội cho đến Pháp không vô tánh tự tánh không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Pháp không nội cho đến Pháp không không tánh tự tánh viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Pháp không nội cho đến Pháp không không tánh tự tánh tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Pháp không nội cho đến Pháp không vô tánh tự tánh hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Như vậy, cho đến mười lực của Phật cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Mười lực của Phật cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Mười lực của Phật cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Mười lực của Phật cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Mười lực của Phật cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Mười lực của Phật cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Mười lực của Phật cho đến mười tám Pháp Phật bất cộng không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Tất cả môn Tama Địa, tất cả môn Đà La Nị chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Tất cả môn Tama Địa, tất cả môn Đà La Nị không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Tất cả môn Tama Địa, tất cả môn Đà La Nị vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Tất cả môn Tama Địa, tất cả môn Đà La Nị không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Tất cả môn Tama Địa, tất cả môn Đà La Nị viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Tất cả môn Tama Địa, tất cả môn Đà La Nị tịch tịnh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tịnh. Tất cả môn Tama Địa, tất cả môn Đà La Nị không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng tịch tình, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tình. Trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Thanh văn bồ đề, độc giác bồ đề, vô thường bồ đề chẳng có, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng chẳng có. Thanh văn bồ đề, độc giác bồ đề, vô thường bồ đề không có thật, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không có thật. Thanh văn bồ đề, độc giác bồ đề, vô thường bồ đề vô tánh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng vô tánh. Thanh văn bồ đề, độc giác bồ đề, vô thường bồ đề không, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không. Thanh văn bồ đề, độc giác bồ đề, vô thường bồ đề viễn ly, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng viễn ly. Thanh văn bồ đề, độc giác bồ đề, vô thường bồ đề tịch tịnh, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng tịch tịnh. Thanh văn bồ đề, độc giác bồ đề, vô thường bồ đề không hiểu biết, nên biết trụ và tác ý như vậy cũng không hiểu biết. Này xá lợi tử! Do nhân duyên này, các đại Bồ Tát đối với việc trụ và tác ý như vậy thường không trời bỏ, cũng không khác với hữu tịnh, vì tất cả Pháp không sai khác. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn khen thiện hiền. Lành thay! Lành thay! Ông khéo thuyết giảng bác nhã Ba-la-mật-đa cho các đại Bồ Tát. Việc này hoàn toàn do thần lực của Như Lai. Nếu có người nào muốn thuyết giảng bác nhã Ba-la-mật-đa cho các đại Bồ Tát đều nên thuyết giảng như ông. Đại Bồ Tát nào muốn học bác nhã Ba-la-mật-đa đều phải theo lời thuyết giảng của ông mà học. Đại Bồ Tát nào theo lời thuyết giảng của ông mà học bác nhã Ba-la-mật-đa, đại Bồ Tát ấy mau chứng đắc vô thường chánh đẳng chánh giác, chuyển bánh xe dịu pháp độ vô lượng chúng sanh. Khi cụ Thọ Thiện hiện thuyết giảng bác nhã Ba-la-mật-đa thâm sâu như vậy cho các đại Bồ Tát ở ba ngàn đại thiên thế giới này biến động sáu cách, rung động, rung động mạnh, rung động mạnh đều khắp, vọt lên, vọt lên mạnh, vọt lên mạnh đều khắp, vang động, vang động mạnh, vang động mạnh đều khắp, khua đập, khua đập mạnh, khua đập mạnh đều khắp, gầm trống, gầm trống mạnh, gầm trống mạnh đều khắp, nổ vang, nổ vang mạnh, nổ vang mạnh đều khắp. Lại trong ba ngàn đại thiên thế giới này, phía đông vọt lên, phía tây chìm xuống, phía tây vọt lên, phía đông chìm xuống, phía nam vọt lên, phía bắc chìm xuống, phía bắc vọt lên, phía nam chìm xuống, ở giữa vọt lên, bốn bên chìm xuống, bốn bên vọt lên, ở giữa chìm xuống. Bây giờ, Thế Tôn miễn cười, cụ Thọ Thiện hiện liền bạch Phật. Do nhân duyên nào ngày miễn cười? Phật bảo Thiện hiện. Như ở ba ngàn đại thiên thế giới này, ta đang thuyết giảng Bát Nhã-Ba-La-Mật-Đa cho các đại Bồ-Tát, vô lượng, vô số, vô biên thế giới. Này ở phương đông có như là ứng chánh đặng giác đang thuyết giảng Bát Nhã-Ba-La-Mật-Đa cho các đại Bồ-Tát. Vô lượng, vô số, vô biên thế giới ở phương nam, tây, bắc, bốn góc, trên, dưới cũng đều có như là ứng chánh đặng giác đang thuyết giảng Bát Nhã-Ba-La-Mật-Đa cho các đại Bồ-Tát. Như ở ba ngàn đại thiên thế giới này, ta đang thuyết giảng Bát Nhã-Ba-La-Mật-Đa, có mười hai na dũ đa trời, người, à tố lạc v, v, được vô sanh pháp nhẫn. Này ở vô lượng, vô số, vô biên thế giới trong mười phương cũng có như là ứng chánh đặng giác đang thuyết giảng Bát Nhã-Ba-La-Mật-Đa, cũng có vô lượng, vô số, vô biên hữu tình đều phát tâm vô thường chánh đặng chánh giác được lợi lạc lớn. Vì vô số, vô số, vô biên thế giới trong mười phương cũng có như là ứng chánh đặng giác đang thuyết giảng Bát Nhã-Ba-La-Mật-Đa, cũng có vô số, vô số, vô biên thế giới trong mười phương cũng có như là ứng chánh đặng chánh giác được lợi lạc lớn. Vì vô số, vô số, vô số, vô biên thế giới trong mười phương cũng có như là ứng chánh đặng chánh giác được lợi lạc lớn.

Listen Next

Other Creators